Thursday, March 21, 2019


CÁNH NHẠN TÂY BẮC
Ngô Quốc Sĩ

          Tâm thức lưu vong là những giọt máu đọng trong đáy lòng những người con phải xa quê hương như xa cánh mẹ, luôn luôn hướng về đất tổ với bao nhớ thương sầu tủi. Dân Do Thái trong kiếp sống lưu đày xa xứ, đã ngày đêm ngồi bên bờ sông Babylon mà nhớ Sion, hẹn ngày về cố quốc. Dân Việt từ năm 1975, cũng đã phiêu bạt bốn  phương, chấp nhận một chốn đôi quê, sống nơi  quê hương tạm dung và lòng luôn luôn tưởng nhớ quê hương đích thực. Có người đã trở về mong giải cứu quê hương đọa đày như Trần Văn Bá, Võ Đại Tôn, Ngô Chí Dũng. Người khác chưa trở về cũng đã mơ một ngày về như Nguyệt Ánh Việt Dzũng..Riêng Lê Tấn Dương, cũng đã trải tâm thức lưu vong qua những vần thơ thật ngậm ngùi truyền cảm, làm ray rứt bao con tim sau 44 năm lưu lạc, vết thương vẫn chưa khô máu..
          Bài thơ “Hành Tây Bắc” đã mở đầu với cảm thức triết lý về cuộc đời đổi thay, mà tiêu biểu là cuộc đổi đời bi thảm của dân Việt từ ngày dép râu và nón tai bèo vào dẫm nát miền Nam một thời từng là hòn ngọc Viễn Đông:
                   Ta đã lưu phương Tây Bắc này
                   Hai sáu mùa, theo lá thu bay
                   Hết năm, Xuân đến, hoa đào nở
                   Mới thấy cuộc đời lắm đổi thay.
          Qủa là bi thảm! Cuộc chiến tàn khốc đã nhận chìm đất nước trong lửa khói. Hai mươi năm chiến đấu bảo vệ tự do đã kết thúc trong tủi nhục. Tháng Tư 75 là tháng Tư Đen, tự do bị bức tử, dân Việt tan tác, kẻ lưu lạc nơi đất khách, người lưu đày trên chính quê hương mình. Đến hôm nay, hình ảnh quê hương lửa khói vẫn luôn hiển hiện trước mắt:
                   Chuyện cũ quê nhà  - Ta nhớ chứ!
                   Lửa cháy tan hoang bốn góc trời.
                   Ta khóc miền Nam, thương đất nước
                   Máu đào, xương trắng, bạn bè ơi.
          Thương nước thương nòi, nhưng mang thân phận kẻ thua cuộc, sống đời lưu vong, tác giả cảm thấy ray rứt, như thể văng vẳng nghe tiếng quốc mà lòng tan nát. Nếu Nguyễn Bá Trác đã mượn chén hồ trường mong vơi bớt nỗi lòng người cuồng sĩ bất đắc chí:
                   Vỗ gươm mà hát
                   Nghiêng bầu mà hỏi
                   Trời đất mang mang ai người tri kỷ

                   Lại đây cùng ta cạn một hồ trường
          Thì hôm nay, Lê Tấn Dương cũng mượn hơi men để trút hết nỗi lòng đứt đoạn của người chiến sĩ nửa đường đứt gánh tang bồng như kẻ ngã ngựa, như đại bàng gãy cánh:
                   Đêm lạnh, một mình bên chung                               rượu
                   Chưa cạn hồ trường đã thấy say.
                   Từ năm gãy kiếm, rời lưng mã
                   Chớp bể mưa nguồn chuyện rủi may.
          Say để bớt sầu lưu vong, để quên thân phận ngã ngựa, nhưng dù tỉnh hay say thì vẫn cảm thương cho phận mình, tóc đã điểm sương, chân đã thấm mỏi,  mà nợ trả chưa xong, quê cũ vẫn còn ngóng đợi bước chân người về:

                   Nợ trả chưa xong, đầu đã bạc
                   Tàn cuộc viễn trình, tay trắng tay
                   Đêm đêm ngóng mắt về quê cũ
                   Gởi lòng theo từng cánh nhạn bay.
          Biết rằng quê hương ngóng đợi, nhưng nói gì và làm gì khi chí trai đã lỡ vận, cuộc cờ chưa mãn đã chào thua trong tức tưởi:

                                Hết nửa đời trai vì cơm áo
                   Đành gởi phận người theo gió mây
                   Nếu biết cuộc cờ từ kiếp trước
                   Thì đâu phải lụy từng phút giây
          Hẳn là đã lỡ vận rồi, nay chỉ còn vớt vát mở lại hành trang tìm một chút gì còn lại, nhưng thật đau lòng! Chỉ nhìn thấy “tay trắng tay”, ngay cả nửa thanh gươm mang theo trong lòng như một chứng tích cuộc chiến chưa tàn, nay cũng biến mất như thể kết liễu chí trai hồ thỉ. Giờ chỉ còn lại những giọt lệ trong mắt cay bên cạnh bình rượu hờ hững:
                   Bao năm lưu lạc vùng Tây Bắc
                   Tìm nửa thanh gươm ở chốn này
                   Nhiều đêm hơi rượu tràn cay mắt
                   Kiếm mất, bình rơi, giọt lệ đầy.

          Nếu hỏi phải chăng đã mất tất cả, thì xin thưa  không”, vì vẫn còn tình yêu và tình bạn. Tình yêu còn đó, em vẫn còn đây như một vỗ về cánh én lạc bầy, cô đơn sầu tủi nơi vùng đất lạ:
                  Hỡi em thục nữ, môi hồng phấn
                   Đừng sợ đêm tàn, tỉnh cơn say
                   Hãy uống cùng ta, nghe chuyện cũ.
                   Chuyện sa trường, da ngựa bọc thây.
      Và tình bạn cũng còn đó như một nhắc nhở sứ mệnh người trai thời chiến, thức tỉnh lòng yêu nước thương nòi với quyết tâm tay trong tay mang kiếm Kinh Kha qua bờ sông Dịch trừ gian diệt bạo. Tình “huynh đệ chi binh” đã làm sống lại ước mơ trở về. Nhưng rồi tác giả phải phân vân tự hỏi, 44 năm rồi bờ Dịch vẫn cách xa, không biết thời gian còn kịp để qua sông kề kiếm vào cổ nghịch tặc không? Dù sao hình ảnh Kinh Kha vẫn là ước mơ tuyệt với của chàng trai Việt tha hương:
                   Bằng hữu - Rượu đây, xin cạn chén.
                   Nguyện ước một ngày, tay trong tay
                   Bến Hải nếu xưa là sông Dịch
                   Ta muốn sang Tần, kịp không đây?

          Còn kịp không đây? Xin trả lời kịp hay không là còn tùy ý chí và quyết tâm của mỗi con dân đất Việt. Lịch sử chứng tỏ rằng. Mỗi lần đất nước lâm cảnh tang thương thì tinh thần Diên Hồng lại làm sống dậy sóng Bạch Đằng cứu nguy tổ quốc. Cũng thế, mỗi khi dân Việt lâm cảnh khốn cùng thì đã có những vị cứu tinh xuất hiện ra tay cứu vớt. Đức Thánh Gióng, Đức Thánh Trần và bao anh hùng liệt nữ khác chẳng phải là những đấng “thiên sai” quy tụ lòng dân, cứu nguy con cháu Rồng Tiên đó sao?
          Trong niềm tin tưởng vào một ngày về, tác giả đã thầm ước dân Việt giữ vững niềm tin và quyết tâm biến đau khổ thành hành động, biến huyết lệ thành máu phục sinh và nước mắt giải thoát. Lúc ấy, thơ không còn là tiếng than ão não, mà là tiếng giải oan kiếp người, mua lại tiếng cười đã quên trong bấy nhiêu năm:
                   Ta bỏ quê xưa, đi biền biệt
                   Bao nhiêu năm, quên cả tiếng cười.
                   Thơ ta, nhỏ xuống thành huyết lệ
                   Xin giải oan khiên một kiếp người
          Thế là con nhạn Tây Bắc đã tìm ra chân lý, vịn vào thơ để đứng dậy và múc cạn huyết lệ để ươm mầm sống và nung nấu tinh thần chiến đấu. Thơ có sức mạnh vô biên, giải oan kiếp người và cứu nguy tổ quốc. Ngày nào tủi hận “gãy kiếm rời lưng mã”  thì ngay mai dân Việt sẽ vung kiếm “thét roi cầu Vị ào ào gió thu”
         
         
         



No comments:

Post a Comment