Friday, May 17, 2019


TIM CON DÂNG MẸ
                                              Ngô Quốc Sĩ
          Lòng con yêu mến mẹ sinh thành, cũng như nỗi lòng dân Việt dâng cho mẹ Việt Nam thật tha thiết. Trần Trung Đạo đã “thưa mẹ con đi” và “đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười”. Thái Tú Hạp thỏ thẻ “mẹ khổ đau yêu dấu mẹ Việt Nam” và “Mẹ nghìn năm vẫn là mẹ Việt Nam”. Nguyễn Tấn Ích than thởĐất Mẹ đêm dài ngày khô hạn”. Còn Hoàng Phong Linh cũng đã dõng dạc thưa “mẹ Việt Nam ơi, chúng con vẫn còn đây”. Hôm nay, trong tâm tình hướng về quê hương khổ đau, nhà thơ lại đem “Nỗi lòng dâng mẹ Việt Nam”, với những vần điệu thật tha thiết, như tiếng lòng thổn thức..
          Là một chiến sĩ từng mở đường về nước chiến đấu, Hoàng Phong Linh đã trải vào thơ những nhức nhối của một người con yêu đã phải xa mẹ trong cơn ác mộng kéo dài đã 43 năm. Hôm nay vết  thương  còn rỉ máu, và con của mẹ vẫn lênh đênh nơi đất lạ quê người như con thuyền không bến:
                   Bốn mươi ba năm rồi
                   Con vẫn đi tìm Mẹ.
                   Vết thương mồ côi còn hoen máu lệ
                   Bao đêm ác mộng bùng lên.
                   Giữa trùng dương thuyền như lá lênh đênh
          Lênh đênh như chiếc lá giữa trùng dương bát ngát, Hoàng Phong linh không những nhớ mẹ, thương mẹ, mà còn anh dũng giã từ cuộc sống tạm dung nơi đất hứa, trở về quê hương đọa đày để được  ôm tay mẹ:
                    Con quỳ lạy khi tầm xa quê cũ.
                   Trời lưu vong tượng đá đầy rêu phủ
                   Góc công viên con gọi Mẹ, đâu rồi ?
                   Con đã về  :  tìm hơi ấm trong nôi
                   Ôm tay Mẹ, sống nguyên đời thơ dại.
          Nhưng mộng lớn đã không thành. Con đã sa cơ vào vòng lao lý. Cuộc sống tù đày không làm con nản chí bỏ cuộc, mà càng làm con cản thấy gắn bó với mẹ hơn, luôn luôn thấy có mẹ bên mình, mở rộng vòng tay nồng ấm an ủi vỗ về:
                   Viên gạch lót đường, xuyên rừng đêm biên ải
                   Phút sa cơ, con thấy Mẹ bên mình.
                   Đời trung niên hằn dấu ấn điêu linh
                   Trong ngục tối, máu đen thành mực viết.
          Thế rồi, thoát khỏi vòng lao lý, trở ra hải ngoại, tiếp tục cuộc sống  lưu vong, nhà thơ lại ngậm ngùi nhìn về đất mẹ mà lòng quặn thắt. Sau bao năm gọi là độc lập thống nhất, nay quê hương vẫn khốn khổ lầm than. Ngoại trừ thiểu số con cha cháu ông, sống phè phỡn trên ngai vàng, thì dân Việt vẫn đói cơm, mẹ Việt Nam vẫn áo rách cằn khô:
                   Rồi hôm nay, nhìn lại cảnh quê hương
                   Con vẫn thấy Mẹ cằn khô áo rách.
                   Tóc bạc cuối đời, con vẫn xin làm gạch
                   Lót đường đi cho thế hệ Em-Con.
          Làm gì đây? Muốn làm gì thì trước hết cũng phải sống, dù sức cạn chân mòn cũng không thể ngã qụy, xin mẹ nâng đỡ con chỗi dậy để tiếp tục chiến đấu và quay về sát cánh mẹ. Dù cô đơn vì bạn bè đã lìa xa, dù cảm nghiệm được thế cuộc vô thường, tim con vẫn gắn bó với quê hương như cá hồi quay gót về nguồn:
                    Xin Mẹ thương con, dù sức yếu mỏi mòn
                   Nâng con dậy, không quay đầu bỏ cuộc.
                   Bạn bè con theo tuổi đời bay vút
                   Bóng cô đơn còn lại giữa đêm trường.
                   Dù ngày mai theo tiếng gọi Vô Thường
                   Hồn con vẫn cá Hồi quay tìm Mẹ.
          Như một lời hứa, con sẽ dốc toàn lực của tuổi hoàng hôn nguyện  trở về hiệp lực với giới trẻ trong nước đang trực diện với khổ đau, thách đố bạo quyền, đòi lại quyền làm người cho dân tộc:
                   Con sẽ về - hòa chung cùng Tuổi Trẻ
                   Thét vang lên đòi lại Quyền Người.
                   Đồng hành bên nhau, vang vọng tiếng cười
                   Quỳ ôm Mẹ giữa trời Xuân Dân Tộc.
                   Tuổi hoàng hôn, con không còn tiếng khóc
                   Nhưng vẫn còn nguyên vẹn máu hồng tim.
           Nhà thơ quyết tâm trở về với một sứ mệnh cao cả, chứ không giống như một số người vong bản mất gốc, vô tâm và vô cảm  trước nỗi đau chất ngất của dân tộc, rủ nhau về Việt Nam không phải chỉ để thăm quê hương hay thân nhân,  mà cốt để khoe khoang và hưởng thụ:
                   Con không về - khoe cảnh sống ấm êm
                   Nơi xứ lạ lãng quên hồn Tổ Quốc.
                   Không làm khách nhàn du giữa nguồn đau Dân Tộc
                   Thản nhiên nhìn bao bạo ngược tàn hung.
          Nhà thơ quyết trở về,  không phải như “áo gấm về làng” để khoe khoang, mà chỉ ôm ấp một tâm nguyện. Đó là tâm nguyện lau khô nước mắt mẹ Việt Nam:
                   Đến cuối đời xin tâm nguyện cùng chung
                   Bao thế hệ lau khô dòng lệ Mẹ.
           Trở về  để lau khô nước mắt mẹ qủa là một sứ mệnh cao cả, như thể Kinh Kha mang kiếm sang Tần diệt trừ bạo tặc, dựng lại mùa xuân có hoa nhân bản, có sử vàng son, có tròn đạo lý:       
                   Đất Nước hồi sinh giữa trời Xuân muôn vẻ
                   Như nghìn xưa theo Mẹ lúc lên non.
                   Hoa Nhân Bản, viết lại Sử vàng son
                   Dâng lên Mẹ - xin vuông tròn Đạo Lý.
                   Phút tàn hơi chỉ mong lòng toại ý
                   Được quỳ hôn từng mảnh đất Quê xưa.
          Đó là món qùa cho quê hương, không phải là vuông vải thô để may ao trắng cho cha ra pháp trường hay cho chị quấn khăn tang, mà bằng tâm nguyện diệt trừ bạo tặc, mở đường tương lai, để dân Việt thôi dãi dầu nắng mưa, ngẩng đầu nhìn thế giới văn minh, hòa nhịp cùng 5 châu tiến bước:
                   Đàn Cháu Con thôi dãi nắng dầm mưa
                   Trời lại sáng, đường tương lai rộng mở.
                   Ngẩng cao đầu, nhịp hòa chung hơi thở
                   Cùng năm Châu sống đẹp với Nhân Quyền.
          Đẹp thay và hãnh diện thay! Máu Lạc Hồng còn nóng. Tim Phù Đỗng còn ấm và chí Hưng Đạo còn nguyên. Dân Việt dù tản mác năm châu bốn biển, vẫn luôn luôn ấp ủ một ước mơ, khắc tâm một lời nguyền trở về dựng lại quê hương, như thể người Do Thái trong thời lưu lạc, đã từng chào nhau bằng lời thề gặp nhau tại Jerusalem:
                   MẸ VIỆT NAM ! Cho con vẹn lời nguyền
                   Chung góp sức, trọn đời xin dâng Mẹ !.
                   Hơn bốn mươi năm, trầm luân dâu bể
                   Vẫn nguyện tình chung thủy với Quê Hương.
          Là một tâm nguyện, một lời thề. Đó không phải chỉ là lời nguyền của nhà thơ Hoàng Phong Linh, mà là lời thề của toàn dân Việt, trong nước cũng như ngoài nước, quyết giải trừ bạo tặc, dựng lại quê hương, lau khô nước mắt Mẹ Việt Nam..




         


Monday, May 6, 2019


QUÊ HƯƠNG TA MƠ VỀ
Ngô Quốc Sĩ

          Từ ngày bỏ nước ra đi tìm tự do, dân Việt luôn luôn canh cánh bên lòng hình ảnh quê hương yêu dấu của một thời thanh bình đã mất. Thủ đô Sài Gòn đã thu nhỏ lại thành “Sài Gòn Nhỏ” không những như một kỷ niệm, mà chính là dòng sống với tình tự quê hương nồng thắm  tuôn chảy như máu hồng trong mỗi con dân đất Việt. Trong lãnh vực thi ca, nhiều nhà thơ đã chan hòa tâm cảm nhớ thương đó vào những vần điệu thật truyền cảm, như Cao Tần, Trần Tuấn Kiệt, Tô Thùy Yên.. Đặc biệt phải nhắc tới Trần Trung Đạo như một nét son trong nỗi nhớ quê hương với những lời thơ chan chứa tình tự dân tộc như hơi thở ấm áp của mẹ Việt Nam.
                Thật vậy!. Người ta còn mãi những gì đã mất. Kỷ niệm quê hương đẹp tươi ngày nào mãi vẫn sống động trong lòng dân Việt, tương tự như dân Do Thái trong cuộc lưu đày, khi gặp đồng hương vẫn chào nhau “Hẹn gặp tại Jerusalem”. Trước hiện thực đất nước điêu linh hôm nay, Trần Trung Đạo đã cùng dân Việt nhớ về quê hương thuở xưa để tìm bóng mẹ Việt Nam một thời huy hoàng:
                    Bốn mươi năm ngó lại đời mình
                   Khóc nhiều cho vận nước điêu linh
                   Quê hương ngàn dặm trời mây trắng
                   Bóng mẹ chìm trong mỗi hướng nhìn
          Hướng nhìn đầu tiên làm nổi bật hình bóng mẹ Việt Nam, là mái trường xưa, có nắng sáng, có tiếng chim hót chào đón người về. Nếu hỏi tại sao tác giả nhớ trường xưa trước tiên, thì có lẽ vì mái trường xưa là hình ảnh quê hương sâu đậm nhất, ghi dấu tuổi trẻ mộng mơ, trong lành, chưa lấm bụi trần, nhìn đời với cặp mắt thơ ngây như thể bồ câu:
                   Ôi mơ ước mai này khi thức dậy
                   Bỗng thấy mình đang đứng giữa quê hương
                   Con chim nhỏ hót mừng tôi trở lại
                   Quãng đường quen rực sáng nắng sân trường
          Tác giả như mơ hồ nghe thấy gót sen cô em nữ sinh nhẹ bước như thể chân chim, làm xào xạc cả hồn anh, đến nỗi chỉ ao ước được làm viên sỏi dưới gót em:
                    Chào cô gái học trò đang tới lớp
                   Cho tôi làm viên sỏi dưới chân em
                   Ðể xào xạc hồn tôi khi mới lớn
                   Chút men tình năm tháng ấy chưa quên
          Hòa lẫn với tiếng chim hót và tiếng gót em xào xạc, còn có tiếng rao lanh lảnh của mấy bà hàng rong, như tiếng gọi thức cuộc đời vào mỗi sáng thức dậy. Để chia sẻ tình nguời, tác giả chỉ ao ước được làm chút gió heo may lau khô những giọt nước mắt một đời cần lao khổ nhọc của những kẻ thiếu may mắn:
                   Chào chị gánh hàng rong qua trước ngõ
                    Cho tôi làm một chút gió heo may
                    Ðể thổi nhẹ lên vai gầy cực khổ
                    Ðời cần lao nước mắt đã đong đầy
          Thế rồi nhà thơ lại bước ra tận ruộng đồng để chia sẻ niềm vui của các bác nông phu cần cù chân lấm tay bùn. Tác giả chỉ muốn được làm ngọn cỏ ven đường để nức hương những bông lúa chín vàng như sức sống của dân Việt trên đất mẹ ngàn năm. Nếu Phạm Đình Chương đã “mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi”, thì Trần Trung Đạo cũng  say nức hương lúa chập chờn như thảm vàng trải dài vô tận…
                                 Chào bác nông phu ra đồng tát nước
                    Cho tôi làm bụi cỏ mọc ven đê
                    Ðể mỗi sáng thở mùi hương lúa chín
                    Lỡ mai xa tôi nhớ lối quay về
          Bên cạnh bác nông phu là anh công nhân. Nhà thơ chỉ mong được làm con thoi nhỏ trên tay anh để dệt từng tấm vải khâu vá thi thể mẹ Việt Nam đang bị búa liềm cứa nát. Nếu ca dao đã ca tụng giải yếm như cầu nối duyên tình giữa trai thanh gái lịch miền quê, thì Trần Trung Đạo cũng chỉ mong làm cây thoi dệt vải bắc cầu nối lại quê hương ly tán, lòng người tan nát ngăn cách. Sông Bến Hải , cầu Hiền Lương năm nào, nay vẫn là hình ảnh của chia lìa, ngăn cách Bắc Nam:
                    Chào anh công nhân dệt từng tấm vải
                    Cho tôi làm con thoi nhỏ trên tay
                    Ðể tôi nối hai bờ sông Bến Hải
                    Nối lòng người vời vợi cách xa nhau
          Và thêm nữa, nhà thơ còn mơ về một quê hương thanh bình với tiếng sáo diều ngân nga theo ngọn tre vi vút nơi đồng quê, thể hiện nếp sống đơn sơ mộc mạc nhưng đầy mộng mơ và thật sự hạnh phúc của dân tộc Việt. Nếu Nguyễn Chí Thiện đã mơ một ngày được nghe “Tiếng sáo mục đồng êm ả. Tình quê tha thiết ngân nga” thay cho tiếng quân ca và quốc tế ca, thì Trần Trung Đạo cũng mơ ngày trở về làm tiếng sáo vi vu, ru tuổi thơ vào mộng:
                                Chào chú bé mục đồng nghêu ngao hát
                    Cho tôi làm tiếng sáo thổi vi vu
                    Ðể được sống thời hồn nhiên đã mất
                    Của đời tôi trong tuổi ấu thơ buồn
           Với giấc mơ quê hương thanh bình nhung gấm, Trần Trung Đạo đã tự đánh thức chính mình và đồng thời đánh thức dân Việt chỗi dậy, đứng lên làm lịch sử , mang kiếm Kinh Kha qua bờ sông Dịch diệt trừ bạo tặc. Bùi Minh Quốc đã muốn đánh thức những người “chiến sĩ Tháng Tám”, đã muốn khơi dậy tiếng sóng Bạch Đằng, thì Trần Trung Đạo cũng mơ thấy biển Đông dậy sóng kình ngư:
                   Thức dậy đi hồn thiêng sông núi
                   Gió Nam Quan xô sóng Bạch Đằng
                   Nửa đêm không bóng người bên suối
                   Sao tiếng gươm mài vang dưới trăng
          Giấc mơ thật tuyệt vời và trọn vẹn. Nhưng giấc mơ tốt đẹp đó chỉ có thể trở thành hiện thực khi dân Việt quyết tâm quét sạch bóng dáng kẻ thù trên quê ta. Nói rõ hơn, dân Việt chỉ tìm lại được quê hương thanh bình và tuổi ấu thơ cũng như tình yêu mặn nồng thuở nào khi quê hương được giải thoát khỏi bàn tay hoang thú:
                   Ôi quê hương, bao giờ tôi trở lại
                   Ði giữa ngày không sợ bóng đêm đen
                   Trong giấc ngủ không xích xiềng réo gọi
                   Câu thơ tình chỉ viết để yêu em.
          Khi ấy, sẽ không còn ám ảnh của tù đày xiềng xích, dân Việt sẽ thản nhiên vào giấc ngủ bình yên, vắng bóng búa liềm cờ máu. Và lúc ấy, bài thơ tình anh viết cho em mới thật sự mặn nồng da diết. Tình yêu thật sự lên ngôi…


                  




         


Thursday, May 2, 2019


SỈ NHỤC VÀ CĂM GIẬN
Ngô Quốc Sĩ

          Bàn về văn chương phản kháng, người ta đã nói nhiều về nhóm Nhân Văn Giai Phẩm với Phùng Quán, Trần Dần, Hoàng Cầm, Hữu Loan… cũng như những khuôn mặt thức tỉnh hôm nay như Dương Thu Hương, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần, Vũ Thư Hiên, Bùi Minh Quốc.. Còn một khuôn mặt rất đặc biệt, một kịch tác gia và một nhà thơ, đã từng xả thân phục vụ chế độ trong binh chủng không quân miền Bắc, nhưng rồi cũng bất mãn, thẳng thắn lên án chế độ với những vần thơ rực lửa. Đó là Lưu Quang Vũ. Anh đã ra đi giữa lúc tài năng vừa nở rộ, cùng với người bạn đời là nhà thơ Xuân Quỳnh và nguời con trai, trong một biến cố nói là “tai nạn xe hơi” tại Hải Dương 31 năm trước đây. Đến nay, hình ảnh Lưu Quang Vũ vẫn còn ghi khắc đậm nét trong dòng văn học chống chế độ, cũng như trong lòng dân Việt. Bài thơ “Những Điều Sỉ Nhục và Căm Giận” đã thể hiện tuyệt vời tâm thức phản kháng của anh, với những vần điệu sắc như dao cắt, nếu không nói nổ như đại pháo phòng không …
          Không hỏi thì mọi người cũng đều nhận thức rằng, “Những Điều Sỉ Nhục” chính là bản cáo trạng tội ác của chế độ, trước kia cũng như hôm nay, đã phỉ nhổ lên lịch sử oai hùng và nền văn hiến ngàn năm của dân tộc, cũng như khát vọng tự do và hạnh phúc đích thực của dân Việt. Còn “Căm Giận” thì chẳng phải riêng tác giả, mà chính là toàn thể dân Việt đã bất bình phẫn uất vì chế độ đã tra chân dân tộc vào cùm đỏ, cứa nát thi thể mẹ Việt Nam với búa liềm cờ máu..
          Qua bài thơ, Lưu Quang Vũ đã nói lên nỗi sỉ nhục ngập tràn trong mọi ngõ ngách cuộc sống, trên mọi nẻo đường đất nước. Đây hẳn là một cái tát vào nền văn minh nhân loại, khi chế độ hôm nay chỉ là guồng máy chà đạp con người, chạy theo dục vọng và phỉ báng công lý lẽ phải:
                    Nỗi sỉ nhục ngập tràn trái đất
                   Khi lẽ phải luôn thuộc về kẻ mạnh
                   Những nền văn minh chạy theo dục vọng
                   Những guồng máy xấu xa chà đạp con người
          Sự sỉ nhúc toàn diện đó là một thảm nạn văn hóa, bao trùm cả không gian lẫn thời gian. đưa dân tộc xuống đáy vực thẳm. Một cành cây, một em bé, một làn môi hay một dòng tin, một ống quần ngay cả một chiếc hôn, tất cả đều chứa đầy tủi nhục, che khuất niềm vinh dự và tự hào của một dân tộc đã từng ngẩng mặt lên với trên 4 ngàn năm văn hiến:   
                   Nỗi tủi nhục đen sì mỗi cành cây
                   Nỗi tủi nhục của đứa trẻ chạy trốn
                   Nỗi tủi nhục trên mỗi bậc thang lười biếng
                   Trong cốc nước đưa lên môi lạnh ngắt
                   Trên mỗi dòng tin mỗi ống quần là phẳng
                   Mỗi chiếc hôn ướt át thì thầm
          Nếu hỏi tại sao dân Việt lại bị sỉ nhục một cách đớn đau như thế, thi xin thưa, chỉ vì chế độ hôm nay vẫn vỗ ngực tư xưng là “ưu việt”, là “Đỉnh cao trí tuệ loài người”, mà thực chất chỉ là ngu xuẫn, khinh mình và khinh người, đánh mất nhân tính, vô phương cứu vãn:
                   Khi bao điều tưởng thiêng liêng trong sạch
                   Bỗng trở nên ngu xuẩn đê hèn
                   Khinh mọi người và tự khinh mình
                   Như chính tay ta đã gây ra mọi việc
                   Và tất cả không cách nào cứu vãn
          Đã thế, chế độ còn chủ trương “bần cùng hóa nhân dân”, đày đọa cả dân tộc trong đói nghèo cùng khổ,  cơm không có ăn, áo không đủ mặc, ốm không thuốc men, kéo lê cuộc sống như những kẻ ăn mày:
                   Một đất nước
                   Đến bây giờ vẫn đói
                   Không có nhà để ở
                   Không đủ áo để mặc
                   Ốm không có thuốc
                   Vẫn còn những người run rẩy xin ăn
          Đến như cơn đói tinh thần mới thê thảm hơn. Giáo dục phá sản. Xã hội băng hoại. Nào là nhà tù lơn hơn trường học. Nào là gái điếm nhan nhãn đầy đường. Thậm chí, còn có những người Việt moi gan người Việt  để ăn hay để bán:
                   Một xứ sở
                   Nhà tù lớn hơn trường học
                   Một dân tộc có nhiều gái điếm nhất thế giới
                   Có những cái đinh để đóng vào ngón tay
                   Có những người Việt Nam
                   Biết mổ bụng ăn gan người Việt
          Đáng nói nhất là chế độ hôm nay gồm toàn những tên bạo chúa, hả hê cười đùa trên xương máu dân lành, trên những vệt máu bầm đen bốn vách tường tù ngục, trên những nấm mồ bị bỏ quên, thậm chí còn bị cày nát làm sân chơi, xây biệt phủ:
                   Mỗi nấm mồ bị vùi dập lãng quên
                   Trên bàn tay đưa ra trên mỗi bức tường
                   Nỗi tủi nhục tội lỗi nỗi tủi nhục kinh hoàng
                   Trên vệt máu bầm đen trên nụ cười thỏa mãn
          Sống trong những tủi nhục chất ngất đó, dân Việt đã thật sự cảm thấy nghẹt thở, mất cả niềm vui và hứng sống. Gi đây chỉ còn rác rưởi và chết chóc, nói gì đến ngay mai?
                   Giữa rác rưởi và chết chóc
                   Luôn thấy bị ném bùn lên mặt
                   Nói làm sao được nữa những lời yêu
                   Nghĩ về cha, con sẽ chẳng tự hào
                   Nỗi tủi nhục làm cha nghẹn thở
                   Nỗi tức giận làm mặt cha méo mó
                   Trong hận thù không thể có niềm vui
          Trong hận thù không thể có niềm vui! Một số người chủ trương quên qúa khứ, bỏ hận thù, hòa giải dân tộc. Nói thì có vẻ đẹp lắm, nhưng xin hỏi, liệu người cộng sản có thực tâm hòa giải không? Nếu muốn hòa giải, sao lại thẳng tay đàn áp dân chủ, tước đoạt tự do, chà đạp nhân quyền? Nếu muốn hòa giải, tại sao cứ tiếp tục sách nhiễu tôn giáo, cướp đoạt tài sản dân oan, bịt miệng tự do truyền thông? Nhất là muốn hòa giải, tại sao lại phản bội tổ tiên, nhẫn tâm làm Việt gian bán nước, rước voi giày mã tổ, lại còn đẩy cả tuổi trẻ vào chỗ chết với những cuộc chiến phi nghĩa?
                   Một đất nước luôn có kẻ dẫn đường
                   Cho người ngoài kéo đến xâm lăng
                   Cho những cuộc chiến tranh
                   Đẩy con em ra trận
                   Những điều sỉ nhục và căm giận
          Tóm lại, chỉ còn sỉ nhục và căm giận! Chỉ còn tội ác bất nhân! Dân Việt phải làm gì đây? Hỏi chính là trả lời: Đấu tranh giải thể cộng sản. Phục hồi tự do dân chủ và nhân quyền. Xây dựng Việt Nam nhân bản tiến bộ, ấm no thịnh vượng.. Chắc hẳn nơi chín suối, Lưu Quang Vũ đang chờ câu trả lời đó…







Thursday, April 25, 2019


DÒNG THƠ MÁU LỆ THÁNG TƯ
Ngô Quốc Sĩ

        Thi ca không hẳn chỉ để thưởng ngoạn, mà còn là vũ khí đấu tranh hữu hiệu. Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện đã khẳng định vai trò thi ca trong công cuộc đấu tranh cứu nguy Tổ Quốc: “Tất cả suy tàn, sức thơ vô hạn.Thắng không gian và thắng cả thời gian”. Thật thế! Thơ đi sâu vào lòng người, nung nấu tim người, khơi đậy lòng yêu nước, đốt lên ngọn lửa đấu tranh, cuộn lên thành bão lửa có thể thiêu rụi chế độ phi nhân phản tiến hóa..
          Trong dòng thi ca đấu tranh, người ta thường nhắc tới các nhà thơ trong nước như Bùi Minh Quốc, Phan Huy, Trần Vàng Sao, cũng như các nhà thơ ngoài nước như Tô Thùy Yên, Trần Trung Đạo, Văn Nguyên Dưỡng…Đặc biệt, mùa tưởng niệm Quốc Hận, dòng thi ca Việt lại hằn lên vết thương nhức buốt qua những vần thơ đầy máu lệ rực lửa đấu tranh..
          Trước tiên  Ngô Minh Hằng đã cháy lòng nhìn thấy những dòng nước mắt tuôn chảy trên má trong mắt dân Việt mỗi lần tháng Tư về. Hà Nội có vỗ ngực là “kẻ thắng cuộc tổ chức ăn mừng “Đại thắng mùa xuân”, thì toàn thế dân Việt chỉ thấy ngày 30 tháng 4 là ngày tang tóc, nhận chìm đất nước xuống vũng lầy tối tăm:
                   Tháng Tư ! Lại tháng Tư buồn !
                   Nhớ quê lòng cháy, mắt tuôn lệ nồng
                   Giọt đau vì núi, vì sông
                   Giọt buồn ý kiếm tình cung lỡ làng …
          Tháng tư  buồn! Máu vẫn tiếp tục nhỏ xuống trên quê hương. Bao oan khiên đã phủ xuống đầu dân tộc, trùng dương pha máu, rừng xanh nhỏ lệ, thương cho thân xác thuyền nhân trôi theo bọt sóng, hay thi thể tù nhân vùi lấp nơi rừng thẳm, nỗi đau trải dài  tận ngàn thu:

                     Tháng Tư, ôi, tháng Tư buồn !
                   Máu đào đỏ sóng trùng dương mấy tầng
                   Rừng xanh nhỏ giọt lệ thầm
                   Một lòng mộ hẹp, mấy thân xác tù !
                   Đau này còn đến thiên thu
                   Nỗi oan chưa giải, hận thù chưa nguôi !!! 
          Hận thù chưa nguôi, bởi lẽ quê hương vẫn tiếp tục rẫy chết trong tay ác qủy. Oan chưa giải, vì dân Việt tại quê nhà vẫn bị hành hạ trong tù nhỏ cũng như tù lớn, và dân Việt hải ngoại vẫn sống kiếp tha hương lạc loài:
                   Đất nước tôi vẫn trong tay ác qủy
                   Và nhà tù vẫn chật kẻ hiền lương
                   Bao triệu người vẫn sống kiếp tha hương
                   Lòng vẫn đắng vẫn đau Ngày Quốc Hận

          Đồng cảm với Ngô Minh Hằng, Hoàng Phong Linh cũng ghi khắc nỗi uất hận tháng Tư như vết thương không thể chữa lành. Vành khăn tang vẫn còn nguyên đó sau hơn bốn muơi năm miền Nam lọt vào tay cộng sản, cánh cửa tự do khép lại, dân Việt hụt hẫng rơi vào đêm đen:
                   Hơn Bốn Mươi  vành khăn tang
                   Trên đầu tôi quấn chặt.
                   Lòng lính đau quặn thắt
                   Rụng xuống mặt trời đen.

          Thật mỉa mai! Ai đó đã bị đu độc hay vô tình, vô tâm vô cảm, nhẫn tâm coi ngày quốc hận là “Ngày thống nhất đất nước”, ngày chiến thắng của “chủ đạo dân tộc” hay thậm chí là “Ngày giải phóng” trong khi dân Việt phải gục đầu tưởng niệm ngày tang tóc, khóc thương cho tự do rẫy chết, nghẹn ngào nhìn quê hương  tan nát, vật vờ trong thác lũ cuồng phong:
                   Từ thuở ban khai, xuyên rừng sâu núi dữ
                   Mẹ dắt Con đi, vạn nẻo thăng trầm.
                   Cầm tay Con tô đậm nét Từ Tâm
                   Khuyên dựng Nước , trời Nam luôn Tự Chủ.
                   Nhưng giờ đây, như cuồng phong thác lũ
                   Trên quê hương bao tội ác tuôn dòng.
           Theo Lê Chân, ngày 30/4 là ngày đoạn trường, tủi nhục. Dân Việt phải cố nuốt hờn căm, òa khóc cho quê hương điêu tàn:
                   Anh ơi ! Tháng Tư đen
                   Ngày ba mươi đoạn trường !
                   Anh nuốt hờn tủi nhục,
                   Em suối lệ trào tuôn.
          Tháng Tư là tháng Tư Đen. Ba Mươi tháng Tư là ngày trăng sao tắt lịm, quê hương phủ màu tang. Cơn quốc nạn đã biến đất mẹ thành đất chết:
                   Anh ơi ! Tháng Tư đen
                   Tháng Tư cơn Quốc nạn
                   Trời đất cùng kinh hoàng,
                   Tháng tư phủ mầu tang.

          Cũng như Lê Chân, Dương Thượng Trúc đã gọi ngày 30 tháng 4 là ngày tang tóc. Vành khăn tang mãi còn nhỏ máu trên đầu dân tộc, nhất là tuổi trẻ Việt Nam lưu lạc bốn phương:
                   Tháng tư Tổ Quốc phủ màu tang.
                   Dân tộc đau thương oán hận tràn.
                   Tủi phận nam nhi đời lữ thứ.
                   Hướng về quê mẹ lệ chứa chan…
           Với Vĩnh Liêm, 30 tháng 4 là ngày lịch sử sang trang, qua cuộc đổi đời bi thảm, đất nước điêu linh, dân tộc tan tác, nghẹn ngào ly cách dòng sữa mẹ ngát thơm:
                   Chuyện bi thảm của Miền Nam bức tử,
                   Là chuyện buồn của lịch sử sang trang.
                   Là niềm đau uất hận đã dâng tràn,
                   Là ly cách muôn đời dòng sữa Mẹ.
          Qua dòng thơ của Thế Huy, chúng ta lại cảm thấy vết thương quốc hận mãi còn đó như những giọt máu đọng, làm thâm tím cả chuỗi ngày còn lại của dân Việt trong kiếp lưu đày.Tác giả đã muốn  thét lên tiếng căm hờn uất nghẹn, kêu gọi dân Việt quyết tâm bẽ gãy xiềng xích  đày đọa dân Việt trong địa ngục đỏ:
                   Nay ba mươi tháng Tư
                   Hét cao lòng căm-phẫn
                   Của năm tháng tội-tù!
                   Sao cúi đầu ẩn-nhẫn? 
          Cùng với tiếng thét của Thế Huy, Hoàng Phong Linh đã lớn tiếng kêu gọi dân Việt đứng lên đập tan bạo cường, dựng lại mùa xuân dân tộc. Mùa xuân nở hoa nhân bản muôn màu. Mùa xuân óng ánh trên những trang sử mới:
                   Đất Nước hồi sinh giữa trời Xuân muôn vẻ
                   Như nghìn xưa theo Mẹ lúc lên non.
                   Hoa Nhân Bản, viết lại Sử vàng son
                   Dâng lên Mẹ - xin vuông tròn Đạo Lý.
          Trần Văn Lương cũng đã biểu tỏ niềm mong ước sớm dành lại non sông trong tay bạo cường, để dân Việt thoát cảnh đọa đày, chấm dứt khổ nạn:
                   Nước nhà đã khổ đau vô hạn,
                   Mãi liên miên kiếp nạn chất chồng.
                   Mong sao giành lại non sông,
                   Để dân thôi phải ngóng trông mỏi mòn
          Ngô Minh Hằng kiên vững hơn. Bà nhất định tin tưởng sẽ có ngày bình minh rạng rỡ trên quê hương dấu yêu:
                   Rồi sẽ bình minh rực tháng Tư
                   Quê hương nhất định hết lao tù
                   Cờ Vàng tô thắm khung trời Việt
                   Tổ quốc vinh quang, sạch bóng thù
          Thế đó! Thơ giải tỏa uất hận. Thơ cũng là tiếng gọi lên đường, là tiếng trống xuất quân, như thể “Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt” khởi đầu cuộc cách mạng dân chủ, giải cứu tổ quốc trong cơn nguy khốn..