Thursday, April 18, 2019


LỬA HẬN ĐANG BỪNG CH ÁY
Ngô Quốc Sĩ

          Dân Việt tị nạn lìa bỏ quê hương  tìm tự do nơi đất khách quê người, nhưng lòng vẫn ấp ủ hình ảnh quê cha đất tổ đang bị đọa đày dưới bàn tay bạo cường.Tuy chấp nhận nơi nầy làm quê hương thứ hai, nhưng ngày đêm dân Việt vẫn mong mỏi trở về dành lại quê hương bên kia bờ đại dương còn quằn quại trong ngục tù cộng sản. Thi ca yêu nước đã đậm nét tâm thức lưu vong và tâm nguyện trở về tha thiết đó. Đặc biệt, những chiến sĩ đã một lần cầm súng, nay cầm viết trải lên giấy những nốt nhạc, những áng thơ văn, tuy có chút ngậm ngùi, nhưng luôn luôn đầy hùng khí, tiêu biểu như Phạm Tín An Ninh, Hoàng Phong Linh, Tô Thùy Yên, Văn Nguyên Dưỡng… Trong các nhà thơ từng khoác chiến y, không thể không nhắc tới Huy Văn, với dòng thơ hào hùng và truyền cảm, như ngọn lửa đấu tranh làm bao tâm hồn rạo rực..
          Cũng như nhiều văn thi sĩ khác, Huy Văn đã trải lên thơ nỗi lòng viễn khách với con tim se héo, thương mình lạc bước như con thuyền chơi vơi trên sóng nước vô định:  
                    Thương thân lưu lạc bên đời rộng
                   Sớm hôm xuôi ngược...rất mông lung!
                   Như thuyền chới với trên đầu sóng
                   Lênh đênh, trôi dạt giữa muôn trùng
          Tuy cuộc tạm dung có đầy đủ tự do với cuộc sống sung túc và tương lai nhiều hứa hẹn, nhưng dân Việt vẫn cảm thấy thiếu thốn. Mất quê hương là mất tất cả. Giờ đây chỉ còn cô đơn trống vắng, như thể hư không!
                   Thuở quan san đã thành cổ tích
                   Vòng sinh tử khép kiếp phiêu bồng 
                   Thắp ánh hoa đăng soi đáy vực
                   Soi thấu hồn ta với hư không.
          Mang tâm trạng ăn nhờ sống gửi, tác giả cảm thấy như sống bên ngoài dòng thời gian. Ngày tháng trôi đi hờ hững. Một vòng quay, một năm qua, thời gian vô tình như cánh gió lướt đi chở theo hồn lữ thứ:
                   Thì cũng miên man trời viễn xứ
                   khi thời gian trỗi một vòng quay 
                   Treo lên cánh gió hồn lữ thứ
                   Cứ thế mà trôi tháng với ngày!
          Tuy ngậm ngùi đếm bước thời gian lặng lẽ trôi, dân Việt vẫn không buông xuôi, quên cội quên nguồn, mà vẫn luôn luôn hướng lòng về đất mẹ, chờ một ngày nắng ấm về trên quê hương. Ngày đó, non sông sẽ bừng dậy sức sống. Đất chết hôm nay sẽ phục sinh trong niềm vui bất tận:
                   Mỗi năm mơ một màu nắng mới
                   Gió lặng, trời quang, ấm mặt người
                   Mong nguyên tiêu sáng đêm cứu rỗi
                   để sông núi sớm dậy nguồn vui.
          Thế là ngọn lửa lòng chưa tắt. Tấm lòng son sắt của con dân đất Việt vẫn bừng cháy ngọn lửa đấu tranh, quyết giải cứu quê hương trong cơn thử thách sóng gió:
                Lửa đã một thời khơi nguồn Khai Phá
                   Hung đúc hùng tâm từ thuở lên đường
                   Nhóm ngọn Lửa hồng. Mời gọi yêu thương
                   Cho Trời Đất luôn thắm mùa hoa nở.
          Từng ngọn lửa sẽ góp thành bão lửa, chiếu rọi u minh, xóa tan bóng tối của đêm ba mươi, và sẽ thiêu rụi ngai vàng đao phủ, trả lại hạnh phúc cho dân tộc:
                Ngọn Lửa dặm đường đã từ muôn thuở
                   Chiếu rọi u minh, soi lối chân tình
                   Lửa nối lòng thanh qua kiếp phù sinh
                   Biến hạnh phúc thành suối nguồn miên viễn.

          Với ngọn lửa bốc lên từ trong lòng, dân Việt siết chắt tay nhau hẹn thề kề vai chung sức xây lại mùa xuân dân tộc. Đó là mùa xuân nắng ấm, hoa cười. Ngày ấy, non sông gấm vóc sẽ vui hưởng mùa thịnh trị:
                   Xuân nghiêng nắng cho Đất, Trời khoe sắc
                   Người chung vai, sánh bước giữa đường hoa
                   Thời chiến chinh mà sao đẹp như là
                   mùa thạnh trị của non sông gấm vóc!
          Giấc mơ thật huy hoàng. Nhưng giấc mơ đó chỉ trở thành hiện thực khi dân Việt biết dấn thân và hy sinh cho lý tưởng tự do dân chủ. Nếu Nguyễn Chí Thiện đã khẳng quyết, hoa chiến thắng chỉ nở trên xương máu: “Máu ươm hoa hoa máu chan hòa, hoa sẽ nỡ muôn nhà muôn vạn đóa”, thì ở đây, Huy Văn cũng khẳng định, muốn giải cứu sơn hà, dân Việt phải hy sinh, vượt qua bức tường sợ hãi, quyết đem mạng sống đổi lấy tự do và quyền làm người:
                   Máu đã đổ! Nhưng đừng nản lòng lui bước
                   Muốn cứu sơn hà phải chấp nhận hy sinh!
                   Giữ biên cương bằng chính mạng sống mình
                   là nét đẹp ngàn đời trong trang sử Việt!
          Từ ý thức trong sáng về lòng hy sinh như đòn bẫy cách mạng, tác giả đã lên tiếng kêu gọi toàn dân Việt can đảm đứng lên làm lịch sử, diệt lũ bạo quyền đang nhẫn tâm bán nước cầu vinh:
                                Phải ngăn bạo quyền đi theo đường Chiêu Thống
                   Không thể đứng nhìn chúng bán nước cầu vinh
                   Đã hơn bốn ngàn năm hồn sông núi uy linh
                   là ngọn đuốc luôn soi đường, dẫn lối!
                Lịch sử chứng tỏ rằng, khi dân Việt siết chặt tay nhau đứng lên với sức mạnh Diên Hồng, với ngọn roi Phù Đỗng, thì kẻ thù dù mạnh đến đâu và tàn ác đấn đâu cũng phải  cúi đầu khuất phục
                   Đồng bào ơi! Hãy vượt cơn sóng dữ!
                   Cơ hội quật cường chỉ đến một lần thôi!
                   Ngọn lửa đấu tranh là ánh sáng cuộc đời
                   Đã đến lúc giương ngọn cờ quyết chiến!
          Với ý chí quật cường, dân Việt sẽ biểu dương sức mạnh dân tộc, hô vang lời “sát thát”, tiêu biểu như tiếng thét vang dậy đất của dân Phan Rí Bình Thuận mới đây:

                   Lửa Phan Rí thắp sáng đêm Bình Thuận
                   Nung lòng Dân, cất tiếng gọi Non Sông
                   Ánh Mê Linh hòa hào khí Diên Hồng
                   Lời “Sát Thát!” ngàn năm còn vọng động!
          Nỗi khổ của dân Việt đã đến tột cùng. Mẹ Việt Nam thoi thóp, không thể kéo dài cơn đau thêm nữa. Dân Việt phải đứng lên ngay. Giờ lịch sử đã điểm! Triệu con tim bừng cháy, Triệu miệng lưỡi hô vang:
                   Đừng chần chờ! Hãy cùng nhau vững tiến!
                   Hãy truyền cho nhau những ngọn lửa tim hồng!
                   Cả nước vùng lên hét một tiếng: “KHÔNG!”
                   Không chấp nhận cho bọn hèn bán nước!

          Như một lời thề, cũng là một lời nguyện, dân Việt nắm tay nhau viết lại trang sử mới, dựng lại mùa xuân dân tộc ấm no thanh bình:        
                   Mang tịnh yên thả vào làn hương quyện
                   Vạn dặm dài làm sao vượt đường mây?!
                   Đành gửi Quê lời ước hẹn một ngày
                   sẽ thắp lại ánh xuân quang Lạc Việt.

          Trong nỗi đau tưởng niệm Quốc Hận , chúng ta hãy thành khẩn chấp tay khấn nguyện Trời Đất hộ phù dân Việt qua cơn khổ nạn, đến ngày phục sinh …







Wednesday, April 17, 2019


TÂM THỨC LƯU VONG
                                                       Ngô Quốc Sĩ
                Trong những năm qua, tôi đã đem hết tim óc để viết về  lòng yêu nước của các thi sĩ tâm huyết như Nguyễn Chí Thiện, Hà Thượng Nhân, Hoàng Phong Linh, Nguyên Sa. Bùi Minh Quốc,Ngô Minh Hằng cùng với các nhạc sĩ nổi tiếng như Anh Bằng, Lê Thương, Lê Văn Khoa, Việt Dzũng, Trúc Hồ và Tuấn Khanh..
          Hôm nay, xin được dành ít phút để chia sẻ tâm tình của chính mình, một gã lưu vong, sống nơi đất khách quê người, mà lòng luôn luôn hướng về quê hương, không phải để khoe khoang hay than thân trách phận, mà chỉ để chia sẻ tâm tình của người lữ khách vào tuổi hoa râm..
          Có người hỏi rằng, sao Ngô Quốc Sĩ-Ngô Đức Diễm là một nhà giáo dạy môn Triết, lại biến thành một nhà thơ, một người làm truyền thông, và một người dấn thân đấu tranh cho tự do dân chủ, đến nỗi cộng sản Việt Nam phải lên án là “tên phản động ác ôn chạy theo đề quốc”? Xin thưa rằng, tôi chọn con đường đấu tranh chống cộng, bởi lẽ, tôi đã có cơ hội chứng kiến tận mắt những tội ác tày trời của cộng sản khi còn ấu thơ tại Hà Tĩnh trong chiến dịch “đấu tố địa chủ cường hào ác bá” tại Liên Khu Tư, cộng với những hiểu biết về chủ thuyết cộng sản qua sách vở, nhất là theo dõi những hành động đàn áp tôn giáo, cướp đoạt tự do dân chủ và nhân quyền của chế độ độc tài toàn trị tại Việt Nam..
          Tôi còn nhớ tuổi thơ tại Hà Tĩnh, khi còn là cậu bé cắp sách tới trường, tôi chỉ mong có được “đôi dép râu” có đế cao su dày hơn lớp bố để khoe với bạn bè! Giấc mơ tuổi trẻ dưới chế độ cộng sản đáng thương đến thế là cùng! Tôi cũng còn nhớ những ngày sống êm đềm tại miền Nam sau cuộc di cư 54,  học hành tốt nghiệp rồi làm nhà giáo, vui với phấn trắng bảng đen, với những mái đầu xanh thân thương..Nhất là tôi không thể quên những ngày tháng ngắn ngủi sau 75, tôi trở thành tên “mất dạy” và chọn sống qua ngày bằng nghề lơ xe đò để chuẩn bị vượt biển tìm tự do cuối năm 1976..
          Lao vào biển cả tìm 1%  cái sống trong 99% cái chết, tôi đã thầm nguyện với trời xanh biển gió:
                    Anh lặng nghe sóng vỗ
                    Như tiếng vọng ngàn xưa
                    Gian khổ bạo quyền chưa một lần khuất phục
                    Bàn chân ngạo nghễ tiến bước hiên ngang
                    Anh sẽ về trong chiến thắng vinh quang
                    Cho dân ta được sống
                    Được tự do làm người
                    Qủy sứ ma vương chấp tay đền tội
                    Đêm qua rồi ta chào đón bình minh
          Bơ vơ trên đất lạ tại bến bờ tự do, lời nguyện trên sóng đã thúc đẩy tôi dấn thân vào con đường đấu tranh từ năm 1978. Tôi đã cùng với anh em Phục Hưng Việt Nam xuôi ngược năm châu vận động cho tự do dân chủ. Ngoài các tiểu bang có đông người Việt tại Hoa Kỳ, chúng tôi cũng đã đặt chân đến Pháp, Đức, Bỉ, Tiệp, Đan Mạch, Hòa Lan, Úc, Tân tây Lan và Nga để cổ võ đấu tranh.
          Tại Tiệp, chúng tối đã có dịp đặt vòng hoa tưởng niệm tại quãng trường  Praha  năm 1991 để tưởng nhớ các chiến sĩ dân chủ đã bỏ xác tại  đây trong mùa xuân Praha:
                    Hôm nay
                   Ta đến với em
                   Ngậm ngùi đoá hoa tưởng niệm
                   Sương chiều phủ kín quãng trường đá xám
                   Nghe chừng vang vọng tiếng nấc oan hồn
                   Mùa xuân năm ấy hy vọng nẩy mầm
                   Mùa xuân năm ấy hồn em loang máu..
          Tại Nga, năm 1992, đứng giữa quãng trường Đỏ, cạnh mộ Lenin, tôi đã phải khóc vì sung sướng nhìn thấy cái nôi cộng sản đã bị dẫm nát:
                   Bia mộ ai nằm nghe nguyền rủa
                   Cẩm thạch rưng rưng cúi mặt thẹn thùng..
                   Tuyết vùi lấp mộ hồng
                   Nhục sử thôi đành quên
                   Sao lung linh đỉnh nắng
                   Thấp thoáng nẻo thiên đường
          Đến Pháp, sau khi cùng với cô Irina thuyết trình về đài phát thanh Tiếng Nói Tự Do từ Mạc Tư Khoa phát trực tiếp về Việt Nam, tôi có dịp ngồi trầm ngâm  dưới chân cầu sông Seine, cạnh tháp Eiffel mà cảm nghiệm về kiếp nhân sinh  chuyển hóa vô thường:
                   Dài thêm bóng ngả chân cầu
                   Ngỡ mình hóa kiếp ngàn sau lạc về
                   Dòng xanh trôi những hẹn thề
                   Lầu xưa vẫn đợi vai kề trăm năm
                   Tháp cao với tận mây ngàn
                   Cổ xưa bén gót thời gian ngập ngừng
                   Tưởng mình cởi áo sắc không
                   Ngàn năm hóa đá bên dòng nước trôi
          Trở về với Hoa Kỳ, tôi  có dịp đến vùng tuyết lạnh Colorado, mơ về quê hương Việt Nam sạch bóng thù:
                   Ta mơ
                   Xây nhà Việt Nam
                   Trên đỉnh cao tuyết phủ
                   Giữa tiếng nhạc thông reo
                   Mây trời lợp mái lá
                   Gió núi đan phên thưa..
                   Mỗi sáng
                   Mẹ lặng nghe nắng vào thung lũng
                   Lòng ấm như hơi ấm ngô khoai
                   Mỗi chiều
                   Cha tựa lưng vách đá
                   Thả hồn theo khói thuốc lào say..
          Rồi trải qua những năm dài ươm mộng, tôi vẫn ngay đêm thao thức về số phận của mẹ Việt Nam đang bị lũ con hoang phản bội giày xéo:
                   Trăm con ngụp lặn sử đen
                   Nội thù giày xéo ngoại xâm đọa  đày
                   Mặt nguời dạ thú cuồng say
                   Bàn tay đao phủ quyết xây ngai vàng
                   Tội đời chát mặn biển Đông
                   Lấm lem nhục sử nát lòng cháu con
          Trong số trăm con khổ đau, có những đứa con đã can đảm đứng lên phất ngọn cờ dân chủ, thách đố với bạo quyền, tiêu biểu như Nguyễn Văn Đài, Phạm Thanh Nghiên, Mẹ Nấm, làm ấm lòng mẹ Âu Cơ:
                   Tim em rạo rực tình trần
                   Quyết đem nhân nghĩa đập tan bạo cường
                   Viết em trong sáng như gương
                   Nhức tim dã thú qủy vương mặt người
                   Thản nhiên  em bước ngang trời
                   Bàn chân dẫm nát đười ươi mặt dày..
          Nói chung, mọi nỗ lực tranh đấu đều nhằm giải thể chế độ cộng sản đang gieo rắc bao oan khiên lên đầu dân tộc, như vết chém mãi còn rướm máu. Mỗi vần thơ là một viên đạn nhắm thẳng vào tim địch, để trả thù cho cha, cho mẹ, cho em và cho dân tộc.
                   Ta khai hỏa
                   bằng viên đạn này
                   Bắn thẳng vào tim những tên phản bội
                   Buộc lũ bạo cuờng gục xuống ăn ăn
                    Cho tan dân đi những nỗi căm hờn
                   Cho vơi cạn bớt những dòng lệ tủi
          Đạn vẫn bắn, vì kẻ thù còn đó, nghênh ngang trên ngai vàng đao phủ, trên giàn thiêu dân tộc…Chúng phải ngã qụy trước sức mạnh dân tộc một ngày không xa…


Thursday, April 11, 2019


TA VỀ TỪ ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN
                                                    Ngô Quốc Sĩ
                    Tô Thùy Yên Là một chiến sĩ và một nhà thơ. Ông đã trải lên thơ những vần điệu và những ý thơ hùng hồn như thác đổ, sắc bén như dao cắt, chuyên chở nỗi đau mất nước và niềm tâm cảm quốc hận của dân Việt. Có thể nói thơ ông nặc mùi sắt thép.
          Trước tiên, thơ Tô Thùy Yên đã chất lên thơ nỗi bất hạnh chất ngất của dân Việt, đang chết dần trong câm lặng , không dám hé môi, chỉ nghiến răng , mắt ứa máu:
                    Ở đây, địa ngục chín tầng sâu,
                   Cả giống nòi câm lặng gục đầu,
                   Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt,
                   Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau.
          Dân Việt bị đày ải trên quê hương như nhà tù lớn. Còn tinh hoa miền Nam sau 75, lại bị lùa những trại tù nhỏ mệnh danh là trải tạo, thực chất chỉ là lò sát sinh, tuy không bằng hơi ngạt như thời Đức Quốc Xã, nhưng bằng những phương thức man rợ và độc ác hơn, với cực hình tra tấn, bỏ đói, cắt đứt liên lạc với thế giới bên ngoài, khủng bố tinh thần trong những hộp kiên giam, vắng tiếng người, dù chỉ một tiếng động nhỏ để chứng tỏ cuộc đời còn đó, chỉ có ruồi muỗi vo ve, con trùng tỉ tê:
                   Ta khắc khoải chờ nghe
                   Những tiếng động của người
                   Tiếng động nào bất kể
                   Đột phá những trùng vây điếc đặc muỗi râm ran …
          Chứng tích của tội ác cộng sản đã được ghi lại cho đời sau, với những dòng chữ viết bắng gạch, bắng than và cả bắng máu trên 4 vách tường kiên giam:
                   Ta nhìn lên những giòng chữ trên tường
                   Viết bằng gạch, bằng than và hình như bằng cả máu …
          Sau khi mãn hạn tù 10 năm, Tô Thùy Yên đã trải hết nỗi uất hận vào bài thơ “Ta Về”, với những vần điệu xoáy sâu vào tim óc, đến nỗi Thảo Dân, một nữ sĩ miền Bắc đã phải thổ lộ: Bài thơ là tiếng lòng của một người, cũng là tiếng lòng của hàng ngàn người miền Nam bị đày ải khắp các nhà tù từ Nam chí Bắc, từ rừng hoang heo hút, hiểm trở đến những nơi đồng chua nước mặn… Đọc bài thơ, ta hiểu về lịch sử, tâm sử, chứ không chỉ là lời giãi bày khi trở lại quê nhà, thậm chí nhóm câu thơ tình ái trong bài cũng gợi về dòng lệ tràn của bao nhiêu thân phận thiếu phụ chờ chồng từ những trại cải tạo sau 1975.”
                Rời nhà tù nhỏ về nhà tù lớn, Tô Thùy đã cảm thấy mình như một xác chết, như bóng ma giữa cuộc đời cô đơn:
                   Ta về một bóng trên đường lớn
                   Thơ chẳng ai đề vạt áo phai 
                   Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ 
                   Mười năm đá vẫn ngậm ngùi thay.
           Sống giữa đời như bóng ma, bởi lẽ vết thương 10 năm còn mãi nhỏ máu như thể mới hôm qua. Ai bảo có thể quên ngày Quốc Hận, thậm chí còn gọi đó là  “Ngày Thống Nhất Đất Nước”, như Cù Huy Hà Vũ! Qủa là sai lầm hết chỗ nói! Thống nhất thế nào? Kẻ thắng cuộc là bọn xâm lăng, theo lệnh quan thầy cưỡng đ0ạt miền Nam, đưa cả nước vào qũy đạo đỏ, biến con người thành vượn:
                   Vĩnh biệt ta- mười- năm chết dấp
                   Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
                   Mười năm mặt sạm soi khe nước
                   Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.

          Làm người ai chẳng muốn sống? Xu hướng sống là xu hương tự nhiên của con người. Kể cả khi muốn tự tử, nguời ta cũng biểu lộ xu hướng sống mạnh nhất. Nhưng oái oăm thay! Trong địa ngục đỏ, khuynh hướng sống căn bản đó cũng phải chào thua, bởi lẽ có sống cũng không được sống như con người, mà chỉ là con thú, thì  thà được chết còn hơn!
                   Bước tới, chân không đè đá sắc
                   Vai trần chín rạn gánh oan khiên
                   Nước khe, cơm độn, thân tàn rạc
                   Sống chẳng khôn, cầu được thác thiêng.
          Bản cáo trạng bắng máu đó đã nói lên một sự tht đau lòng, là dòng sử Việt đã bị nhuộm đen, ngụy tạo và lấp liếm, nhắm che đấu  tội ác cộng sản sắt máu, cai trị bằng súng đạn, coi mạng người như cỏ rác:
                   Đám chủ mới y trang xúng xính,
                   Súng nghênh ngang, tiếng hét phàm phu,
                   Xua trăm họ, sá chi thân mạng
                   Lăn địa cầu ra khỏi lối xưa.
          Tội ác lớn lao nhất của cộng sản là nướng dân đen trên lửa đỏ, đến nỗi Bùi Minh Quốc đã gọi chế độ hôm nay là “giàn thiêu” , và quật mồ thánh đế để phi tang những di tích và công trạng của tổ tiên đã có công cứu nước và dựng nước:
                   Như tên phù thủy già điên loạn
                   Lịch sử lên cơn dữ bất thường,
                   Treo ngược con đen trên lửa đỏ,
                   Quật mồ thánh đế phi tang xương. 
          Hận người cộng sản tán ác bất nhân, Tô Thuỳ Yên đã kêu gọi dân Việt thét lên tiếng nói uất nghẹn để vơi bớt hờn tủi:
                   Chú em hãy hát, hát thật lớn
                   Những điệu vui, bất kể điệu nào
                   Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
                   Cho mái đầu ta chớ cúi sâu.
          Thế rồi với tâm thức lưu vong, Tô Thùy Yên đã hét lên tiếng hét của uất hận, của 30 tháng 4, như tiếng thét của nguời bị bức tử:
                   Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
                   Như người bị bức tử canh khuya
                   Xé toang từng mảng đời tê điếng
                   Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê.

          Tuy lấy máu viết thành những vần thơ đầy thương hận, thét lên tiếng căm hờn, nhưng với lòng từ ái và theo truyền thống bao dung của dân Việt, Tô Thùy Yên đã dịu dàng kêu gọi người cộng sản  tự sám hối và để lịch sử phán xét:
                   Những ai hôm trước từng gây tội
                   Hãy lắng tâm tha lấy lỗi mình
                   Tự tại, thời gian chôn chính nó
                   Đời lên lại mãi tựa bình minh
          Tuy hận tím gan, nhưng theo Thảo Dân “Tô Thùy Yên đã chạm tới cái vô hạn của nhân chi sơ tính bổn thiện”. Từ đó, nhà thơ đã tỏ ra bao dung nhân hậu, nhìn về tương lai, mơ ước cuộc sống thanh bình trên quê hương, trong cuộc đời đầy hoa mộng:
                   Bao giờ ta trở về dương thế,
                   Sống đáng vinh danh lại kiếp người,
                   Để thấy đường đi muôn lối rộng
                   Dập dìu những chéo áo reo vui
          Nơi đó, có ngọn triều bát ngát quê ta, có tiếng đàn khuya ru tình dân tộc:
                   Quê ta đâu cũng là sông nước,
                   Phơi phới triều lên bát ngát bờ,
                   Cuốn tiếng đàn khuya trên bến bắc
                   Trải tình về lại lạch nguồn xưa.
          Giấc mơ quê hương thanh bình đẹp đến thế là cùng! Nhà thơ biến thành nhà nhân bản. Con tim Việt Nam dịu dàng thay!



Thursday, April 4, 2019


VONG QUỐC HẬN
Ngô Quốc Sĩ

            Lìa xa quê hương, sống lưu vong nơi đất khách quê người, dân Việt luôn luôn hướng lòng về quê cha đất tổ. Niềm thương nhớ vô bờ đó đã thật sự đậm nét trong dòng thi ca yêu nước, nhất là trong những dịp đặc biệt như  ngày Tết, ngày Hoàng Sa Truờng Sa, ngày Quân Lực, đặc biệt là ngày Quốc Hận..
          Nhân dịp tưởng niệm Quốc Hận lần thứ 44, Trần Vấn Lệ đã cho phổ biến bài thơ “Nước lặng và Hoa trôi”, nói lên tâm cảm xót xa của dân Việt trước cảnh đất nước hoang tàn, dân tộc điêu đứng sau 44 năm gọi là “đại thắng mùa xuân”, đánh cho “Mỹ cút Nguỵ nhào”.
          Vào thơ, Trần Vấn Lê đã gói ghém nỗi nhớ về quê hương đọa đày với những dòng nước mắt tủi hận, những tiếng nói uất nghẹn, thỏ thẻ chỉ đủ cho mình nghe:
                   Bốn bốn năm rồi nhé!
                   Nói đi rồi ứa lệ
                   Không ai cấm bạn cười
                   Nhưng bạn ơi, thỏ thẻ!
            Dân Do Thái lang thang trong sa mạc 40 năm đã tìm thấy đất hứa. Còn dân Việt đã 44 năm vẫn là kẻ vong quốc lạc loài. Người bỏ nước ra đi, sống vất vưởng nơi đất khách. Người ở lại, sống trên quê hương mà thật sự bị lưu đày.Tất cả đều trải qua một đêm dài lịch sử với nhiều cơn ác mộng:
                   Bốn bốn năm...như mơ
                   Một giấc mơ thậm thượt
                   Những người còn trong Nước
                   Những người đi Tha Hương!
          Đồng cảm với Trần Vấn lệ, Võ Tá Hân với bản nhạc “Ta Trở Lại” cũng  đã trải vào thơ của Nguyen Huy những âm thanh truyền cảm, làm thổn thức bao con tim chưa hóa đá, còn biết rung cảm trước nỗi đau chất ngất của dân tộc. Tác giả cũng đã nhớ về quê hương, tìm lại những khuôn mặt thân quen trong con phố nhỏ, không biết ai còn ai mất, đặc biệt tưởng nhớ những tinh hoa đất Việt đã vùi thân nơi rừng sâu núi thẳm, trong các trại tù lao động khổ sai, còn độc ác hơn cả thời tiền sử:
                   Ta trở lại qua từng con phố nhỏ
                   Hỏi những người quen ai mất ai còn
                   Ai đã sống nơi rừng sâu núi thẳm
                   Mãi không về dù chỉ một lần thăm!
          Quê hương giờ đây chỉ còn là một sa mạc, hay đúng hơn, một nghĩa địa hoang tàn. Tuy bên ngoài không thiếu những cao ốc nguy nga, những biệt phủ sang trọng, những tượng đài nghìn tỷ chênh vênh. Nhưng đàng sau vẻ huy hoàng giả tạo đó, dân Việt đang thoi thóp, ngộp thở trong tối tăm. Nhất là biết bao người đã nắm xuống cho quê hương, máu và nước mắt đã thấm sâu vào lòng đất lạnh. Nay chỉ còn những nấm mồ cô đơn, không viếng thăm, không nhang khói:
                   Ta trở lại nơi người yên giấc ngủ
                   Bao năm rồi không một bóng người qua
                   Ôi thương nhớ tưởng chừng như đã hết
                   Bỗng ngậm ngùi lưu luyến phút chia xa
          Mang phận lưu vong, Trần Vấn Lệ  đã hướng lòng về quê hương thanh đạm khoai sắn, nhưng nơi đó lại chứa chan tình cảm mặn nồng:
                   Chúng ta, ai không buồn
                   Không nhớ thời khoai sắn?
                   Nhớ muỗng muối quá mặn
                   Nhớ miếng gừng quá cay...
          Điều làm cho tác giả uất hận nhất, là quê mẹ ngàn thương đang bị giày xéo bởi bọn hoang thú mất hết chất người. Nếu Đức Tường đã không ngại gọi chúng là bầy “Chó vàng chó xanh chó đen chó đốm..hung hãn hơn loài sói lang..” thì Trần Vấn Lệ cũng nhìn thấy bọn cộng sản hôm nay chỉ là cầm thú, cắn nát thi thể mẹ Việt Nam:
                        Những con chó thong dong
                   đi trên đường Đồng Khởi
                   Vì đâu mà nên nỗi?
                   Nước lặng và hoa trôi..
          Điều đáng mừng là dân Việt Việt trong cảnh khốn cùng, vẫn luôn  mong ước cho đất nước mở mang tiến bộ, xứng đáng với bốn ngàn năm văn hiến.  Cô giáo Lam đã buồn lòng nhìn thấy  Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn. Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm”.  Trần Vấn Lệ tuy không khỏi trăn trở nhìn thấy cảnh “nước lặng hoa trôi”, như thể vô cảm trước khổ đau, nhưng anh chưa đến nỗi thất vọng. Anh vẫn tin tưởng vào lòng yêu nước và tinh thần vươn lên như Phù Đỗng của dân Việt:
                  Bốn bốn năm hôm nay
                   Ai cũng đều mong muốn
                   Dân mình ngày khôn lớn
                   Đất Nước ngày mở mang...
          Cũng với con mắt lạc quan, Võ Tá Hân và Nguyên Huy cũng đã tìm về qúa khứ, thương về miền đất đã ươm mộng tuổi thơ. Tuy chỉ là “Đồng chua nước mặn”, nhưng là linh địa đầy khí thiêng nung đúc tuổi trẻ, nuôi chí khí quật cường bất khuất của dòng Lạc Việt:
                   Ta trở lại nơi ngày ta khôn lớn
                   Nhắc lại những gì kỷ niệm ấu thơ
                   Nơi đã nuôi ta nước mặn đồng chua
                   Bao năm rồi ôi thương nhớ vô bờ!
          Từ niềm hãnh diện về tuổi trẻ được lớn lên trong lòng đất mẹ, trong nguồn suối thương bất tận, tác giả còn nhớ v những chiến sĩ đã anh dũng xả thân bảo vệ đất nước. Có người đã nhắm mắt nơi biên ải, vong linh còn tức tuởi trong gió “hồn tử sĩ gió ù ù thổi”. Có người đã buông súng trong tủi nhục căm hờn. Người khác lại vùi thân nơi trại tù trong rừng sâu núi thẳm. Họ là những đứa con yêu của tổ quốc đáng được lịch sử ghi nhớ. Hôm nay cộng sản có cày nát tượng Thương Tiếc nhằm xóa bỏ công lao và chiến tích của các chiến sĩ cộng hòa, thì máu xương của họ cũng đã tô thắm non sông. Nếu Đằng Phương đã gọi những chiến sĩ đó là anh hùng vô danh đó:
                   Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi
                   Trong loạn ly như giữa lúc thanh bình
                   Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh
                   Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch.
          Thì Võ Tá Hân và Nguyên Huy đã dùng thơ nhạc vinh danh những chiến sĩ không tên tuổi:
                   Ta trở lại thăm đồn biên giới cũ
                   Nhớ lại từng thằng chung cuộc đao binh
                   Hai chục năm qua rồi chỉ một mình ta
                   Ta cúi mặt nghe thổn thức nỗi lòng
          Trần Vấn Lệ, Võ Tá Hân và Nguyên Huy đã trải vào thơ nhạc cảm thức đau xót trước hiện thực bi thảm của đất nước và dân tộc Nhưng tác giả cũng như toàn dân Việt không mất niềm tin. Đa số dân Việt hôm nay đã nhận chân được bộ mặt tàn bạo và giả dối của cộng sản, quyết đứng lên bẻ gãy xiềng xích, đập tan búa liềm, xé nát cờ đỏ. Cuộc cách mạng dân chủ đã châm ngòi. Dân Việt đang quyết chiến và quyết thắng..